Người Samaritan
Vào năm 722 trước Công nguyên, người Assyria đã chinh phục vương quốc phía bắc Israel, loại bỏ các bộ lạc Do Thái khỏi những vùng đất đó và thay thế họ bằng những người ngoại bang từ các quốc gia khác. Một số người Do Thái còn ở lại xứ này và những người trở về sau đó đã kết hôn với những người ngoại này. Nhóm người mới này pha trộn các tôn giáo Do Thái và ngoại giáo với nhau (2 Các vua 17:24, 32–33; E-xơ-ra 4:10). Trong thời gian này, người Samaritan nổi lên với một tôn giáo đối thủ đại diện cho một hình thức khác biệt với đạo Do Thái truyền thống. Ezra và Nê-hê-mi giữ cho Giê-ru-sa-lem thoát khỏi ảnh hưởng của họ, điều này giải thích sự căng thẳng rõ ràng tồn tại giữa người Do Thái và người Sa-ma-ri trong Tân Ước (xem Giăng 4:1–26).
Trong thời gian này, tiếng Aramaic ngày càng thay thế tiếng Do Thái trở thành ngôn ngữ chung của khu vực. Ezra bắt đầu có thói quen đọc Kinh thánh trước bằng tiếng Do Thái trước khi dịch sang tiếng Aramaic dễ hiểu (Neh 8:8). Việc thực hành này đã được các thế hệ sau lặp lại rộng rãi đến nỗi các bản dịch tiếng Aramaic ít nhiều đã được chuẩn hóa. Những bản dịch này được gọi là “Targums”. Targum có đặc điểm tránh mô tả về Chúa như thể Ngài có các bộ phận cơ thể. Những cụm từ như “bàn tay của Chúa” hoặc “con mắt của Chúa” được thay thế bằng những từ ám chỉ đến “công việc” hoặc “kiến thức” của Chúa. Đức Chúa Trời được coi là Thánh Linh, Đấng Tạo Hóa, Đấng Cung Cấp và Đấng Bảo Trì. Sự giảng dạy của các hội đường trong thời Tân Ước có thể được bắt nguồn từ những Targum này.